Latest From My Blog

Thách thức tử thần với xe tự chế
Tại Sóc Sơn, Hà Nội nhiều người đua nhau chế tạo một loại xe ba bánh kiểu mới để đưa đón học sinh. Những chiếc xe không ai kiểm định, tồn tại trước sự làm ngơ của chính quyền địa phương và cơ quan chức năng. Hàng chục học sinh ngồi chen chúc trên thùng xe chật chội như thách thức thần chết.

Nhồi nhét trong lồng chật
Theo khảo sát của PV Tiền Phong, chỉ trên địa bàn xã Hiền Ninh (huyện Sóc Sơn, Hà Nội) đang có khoảng 12 chiếc xe tự chế, thường xuyên đưa đón học sinh. Mỗi xe chở gần 30 học sinh, chen chúc ngồi trong chiếc thùng lợp kín, duy nhất một cửa ra vào. Hình ảnh những chiếc xe ba bánh tự chế kiểu mới chở học sinh mầm non, tiểu học (không giấy phép lưu hành) khá quen thuộc với người dân xã Hiền Ninh từ nhiều năm nay.
Có thể bạn quan tâm: 5 làng nghề truyền thống không nên bỏ lỡ khi ghé thăm Đà Nẵng
Hằng ngày, đến giờ tan trường, cả đoàn xe hơn chục chiếc tấp nập xóm làng. Thùng xe loại này được hàn ghép lại từ các thanh sắt đơn giản, rộng khoảng 2m2, dưới gầm có hàn trục đỡ và lắp hai bánh xe nhỏ. Một chiếc xe máy hiệu dream hoặc wave... được nối với thùng xe bằng thanh sắt để làm sức kéo chính. Sau khi cho các học sinh vào thùng xe, lái xe khoá cánh cửa duy nhất phía sau.
Trao đổi với PV Tiền Phong, ông Tạ Văn Bình (60 tuổi, thôn Nam Cương, xã Hiền Ninh) tự nhận mình là người đầu tiên tạo ra loại xe này. Ông Bình cho biết lý do “chế” xe ba gác: Do con bận việc cả ngày nên phải đảm nhận việc đưa đón cháu đi học. Các cháu đông, nếu dùng xe máy, phải đi lại nhiều lần, rất vất vả.
Những ngày đầu, ông Bình chỉ chở các cháu nội - ngoại, dần dần có thêm con em hàng xóm. Từ khởi xướng của ông Bình, đến nay, trên địa bàn xã Hiền Ninh đã có thêm 11 hộ khác đóng thùng xe tương tự để thực hiện việc đưa, đón học sinh bậc tiểu học và mầm non mỗi ngày. Mỗi thùng xe được chủ nhân đặt đóng ở xưởng cơ khí với giá khoảng 3-5 triệu đồng. Hiện, các xe đều đang trong tình trạng quá tải. Riêng xe của ông Bình (rộng nhất), chở tới 25 học sinh; các xe còn lại chở 20 học sinh.

Chính quyền thừa nhận: Làm ngơ


Thách thức tử thần với xe tự chế

Trao đổi với PV Tiền Phong, một phụ huynh nói: “Biết xe tự chế không an toàn, các cháu lại ngồi trên ba hàng ghế được xếp song song với nhau trong thùng chật chội (khoảng 2m2), không khác gì ngồi trong chiếc cũi nhỏ. Bọn trẻ lại hiếu động, thường vô tư nô đùa, nghịch ngợm. Nói dại mồm, nếu không may xảy ra tai nạn, cháy nổ, hậu quả thật khó lường”.
Tuy nhiên, theo vị phụ huynh này, do hai vợ chồng làm công nhân, phải dậy sớm nên đành phó mặc công việc đưa đón con mình cho các lái xe với chi phí 100 - 200 nghìn đồng/tháng/học sinh (tùy khoảng cách xa, gần - PV).
Anh Trần Văn Liêu, cha của em Trần Lan Phương (học lớp 2, Trường Tiểu học Hiền Ninh) băn khoăn: “Về thông số kỹ thuật và hệ thống phanh chắc chắn không đảm bảo an toàn. Bởi lẽ, đây là loại xe do người dân tự chế, không qua quá trình kiểm tra của các nhà máy hay đơn vị chức năng”.
Nhiều người dân cho biết, loại xe lôi, xe kéo tự chế chở học sinh phổ biến nhiều nơi ở Sóc Sơn. Nó trở thành loại phương tiện chuyên đưa đón học sinh và số lượng ngày càng tăng lên, lan ra các địa phương khác.

Video minh họa:

Điều đáng ngạc nhiên nhất khi ông Nguyễn Văn Quyết, Phó Chủ tịch UBND xã Hiền Ninh cho biết: Theo quy định, loại xe tự chế này không được phép lưu thông, nhưng xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân nên xe vẫn hoạt động trên đường làng.
“Trường hợp xảy ra sự cố va chạm với xe khác hoặc lật, đổ, hậu quả sẽ rất lớn. Bởi vì, mỗi xe chở từ 15 đến 20 học sinh lại bịt kín, không có lối thoát ra ngoài. Chúng tôi biết nguy hiểm, nhưng mấy năm qua chưa thấy xảy ra sự cố nên... làm ngơ để các phương tiện này hoạt động”, ông Quyết nói. Theo ông Quyết, chính quyền xã rất mong sớm tìm được phương tiện thay thế vừa đảm bảo an toàn, chi phí không quá cao so với mức sống của người dân.
PV Tiền Phong sau nhiều ngày hẹn lịch làm việc với UBND huyện Sóc Sơn đều được chỉ dẫn tới nơi này, nơi kia. Đến khi sang làm việc với công an huyện cũng rơi vào cảnh thoái thác nhiều lần.
Tuy nhiên, khi trao đổi qua điện thoại, ông Lê Trung Hải - Đội trưởng Cảnh sát giao thông (Công an huyện Sóc Sơn) lại phủ nhận trên địa bàn huyện có loại xe tự chế này. Ông Hải quả quyết: “Qua kiểm tra, trên địa bàn toàn huyện chưa phát hiện tình trạng xe lôi, xe kéo tự chế chở học sinh”.

Xem thêm: 
Nếu bán nhà mà vợ không đồng ý thì có được không?
Thẩm quyền tòa án gia đình với người chưa thành niên

Nguồn: tuvanphapluat.tinmoi.vn

Thách thức tử thần với xe tự chế

Nếu bán nhà mà vợ không đồng ý thì có được không?
Vợ chồng tôi hiện đang sống ở căn nhà thuộc ngoại thành Hà Nội, nay do công việc của tôi có sự điều chuyển nên muốn bán đi mua 1 căn chung cư nhỏ trong nội thành.
Căn nhà có sổ đỏ, mua khi hai vợ chồng kết hôn, hiện đang đứng tên tôi, nay tôi muốn bán mà không cần có sự đồng ý của vợ có được không?


Theo khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.
Có thể bạn chưa biết:
Những hành động xấu xí cần phải tránh làm tại sân bay
Do vậy ngôi nhà mua trong thời kỳ hôn nhân nên vẫn được xác định là tài sản chung của vợ chồng.
Khoản 2 Điều 27 nói trên quy định: “Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng”. Với quy định này, việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp sổ đỏ cho mình bạn đứng tên trong trường hợp này là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, mặc dù sổ đỏ chỉ mình bạn đứng tên nhưng nó không phải là căn cứ để xác định căn hộ đó là tài sản riêng của bạn.
Theo quy định tại Điều 28 Luật, vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Các giao dịch mua bán, định đoạt tài sản chung phải được vợ chồng bàn bạc, thoả thuận, thống nhất. Do vậy, bạn cần phải trao đổi với vợ để thống nhất việc chuyển nhượng cho người khác.

Tin liên quan:
Thẩm quyền tòa án gia đình với người chưa thành niên
Vấn đề hôn nhân thực tế thời nay
Kỳ án trong hoa viên Xương Thời - Ngọc Quý
Tìm hiểu quyền nhân thân với hình ảnh cá nhân

Nguồn tin: tuvanphapluat.tinmoi.vn

Nếu bán nhà mà vợ không đồng ý thì có được không?

Theo dự thảo lần 1 Đề án Tòa án gia đình và người chưa thành niên thì Tòa án này giải quyết tất cả các vụ án liên quan đến người chưa thành niên cả về dân sự, hình sự, hôn nhân và gia đình. Phương án này có ưu điểm là hình thành một hệ thống Tòa án chuyên trách có nhiệm vụ giải quyết tất cả những vụ việc liên quan đến người chưa thành niên một cách có hệ thống, toàn diện.

Xét xử tất cả hay chỉ các vụ án hình sự ?

Theo dự thảo lần 1 Đề án Tòa án gia đình và người chưa thành niên thì Tòa án này giải quyết tất cả các vụ án liên quan đến người chưa thành niên cả về dân sự, hình sự, hôn nhân và gia đình. Phương án này có ưu điểm là hình thành một hệ thống Tòa án chuyên trách có nhiệm vụ giải quyết tất cả những vụ việc liên quan đến người chưa thành niên một cách có hệ thống, toàn diện. Như vậy, phạm vi thẩm quyền của Tòa này rất rộng, nên nhiều ý kiến băn khoăn về tính khả thi của nó trong bối cảnh của ngành Tòa án Việt Nam cũng như hệ thống pháp luật hiện hành.

Nếu phương án này được chấp nhận, thì ngoài việc phải có một đội ngũ thẩm phán, hội thẩm, thư ký tòa án… được đào tạo về kiến thức, tâm lý của người chưa thành niên, còn phải đáp ứng được yếu tố chuyên môn trên tất cả các lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình, hình sự, lao động… Như vậy, số lượng thẩm phán, hội thẩm nhân dân tham gia tòa chuyên trách sẽ rất lớn, nếu đào tạo thì cần phải có lộ trình dài; còn nếu lấy từ các TAND sang thì ít người đáp ứng được yêu cầu, mặt khác sẽ tạo nên sự thiếu hụt về số lượng thẩm phán ở các Tòa án. Bên cạnh đó, cũng cần tính đến sự hài hòa, hợp lý trong mối quan hệ với các Tòa chuyên trách khác. Ủy viên Ủy ban Tư pháp Nguyễn Thành Bộ tính toán, sẽ giảm đáng kể số lượng vụ án ở các tòa án hiện nay vì lý do mở rộng thẩm quyền của Tòa chuyên trách. Bởi, chỉ cần trong vụ án có người chưa thành niên tham gia tố tụng, kể cả tư cách là nhân chứng cũng thuộc thẩm quyền của tòa chuyên trách gia đình và người chưa  thành niên. Như vậy, cần phải đầu tư một hệ thống cơ sở vật chất cho Tòa chuyên trách ngang với hệ thống TAND hiện nay mới đáp ứng được yêu cầu. Điều này, không phù hợp với mục tiêu đặt ra là thành lập Tòa chuyên trách nằm trong hệ thống TAND hiện hành và không phù hợp với tình hình KT - XH của Việt Nam.
Thẩm quyền tòa án gia đình với người chưa thành niên
ảnh internet


Cùng quan điểm trên, Pgs - Ts Hoàng Minh Sơn, ĐH Luật Hà Nội khẳng định, quy định thẩm quyền nêu trên là quá rộng và khó khả thi. Chỉ nên xác định thẩm quyền của Tòa trong việc xét xử các vụ án hình sự. Nếu xác định thẩm quyền Tòa án gia đình và người chưa thành niên là xét xử các vụ án và giải quyết các vụ việc có liên quan đến gia đình và trẻ em theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và tố tụng dân sự hoặc các việc khác theo quy định của pháp luật mà không giới hạn phạm vi thì đòi hỏi thẩm phán phải có kiến thức chuyên sâu, toàn diện trong tất cả các lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính… Trong khi, chúng ta đang cần có một đội ngũ thẩm phán chuyên sâu để giải quyết tốt hơn nữa những vụ quan liên quan đến người chưa thành niên.

Ở khía cạnh khác, Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Đình Quyền cho rằng, theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc thành lập các Tòa chuyên trách dựa trên các nhóm quan hệ xã hội cùng loại mà pháp luật chuyên ngành điều chỉnh như quan hệ dân sự, hình sự, kinh tế, hành chính… tương ứng với nó là các Tòa dân sự, Tòa hình sự, Tòa kinh tế, Tòa hành chính. Đối với Tòa chuyên trách về gia đình và người chưa thành niên thì tính chất khác với Tòa chuyên trách hiện hành, vừa kết hợp theo nhóm quan hệ, vừa kết hợp theo chủ thể. Do đó, cần làm rõ thẩm quyền của Tòa này nhằm bảo đảm vừa phúc đáp được mục tiêu thành lập Tòa vừa không trùng lặp về mặt thẩm quyền với các Tòa chuyên trách khác.

Thực tế, việc xác định ngay lập tức thẩm quyền xét xử các loại án là quá phức tạp, chưa phù hợp với điều kiện chuyển đổi tổ chức, con người hiện tại của hệ thống tư pháp Việt Nam. Hơn nữa, ngoài việc bảo vệ lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, các đặc điểm hệ thống tư pháp người chưa thành niên và thực tiễn chủ yếu chỉ áp dụng cho việc giải quyết các vụ án hình sự. Từ đó, trước mắt chỉ nên quy định phạm vi thẩm quyền Tòa án gia đình và người chưa  thành niên xét xử các vụ án hình sự liên quan đến người chưa thành niên.

Thẩm quyền tòa án gia đình với người chưa thành niên
ảnh internet
Cần thí điểm thành lập

Để chuẩn bị cho việc thành lập Tòa án gia đình và người chưa thành niên, ngoài việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật (sửa đổi, bổ sung một số luật như Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng dân sự…), cơ sở vật chất, cần phải triển khai công tác đào tạo, tập huấn cho đội ngũ thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký tòa án những kiến thức, kỹ năng cần thiết về người chưa thành niên. Vấn đề này cũng được đặt ra đối với các điều tra viên, kiểm sát viên trong việc xem xét, xử lý các vụ án liên quan đến người vị thành niên. Như vậy, một khối lượng công việc lớn đặt ra trong công tác đào tạo, nhất là xây dựng giáo trình, tài liệu, cơ sở đào tạo. Từ thực tiễn này, nên tập trung thí điểm Tòa chuyên trách tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi có nhiều vụ án liên quan đến người chưa thành niên để rút kinh nghiệm và làm cơ sở cho việc nhân rộng mô hình này ở những nơi có đủ điều kiện.

Theo dự thảo đề án, Tòa án gia đình và người chưa thành niên được thành lập ở Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực, ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân tối cao. Ủy viên Ủy ban Tư pháp Nguyễn Thành Bộ gợi ý, việc tổ chức, thành lập tòa chuyên trách ở các cấp tòa án, các khu vực cần được khảo sát, đánh giá một cách toàn diện, chính xác yêu cầu giải quyết các vụ án về người chưa thành niên, tránh việc tổ chức bộ máy cồng kềnh hoặc đáp ứng được nhu cầu giải quyết vụ án đối với người chưa thành niên. Do đó, cần lộ trình thí điểm cụ thể ở một số thành phố lớn người chưa thành niên chiếm tỷ lệ cao

Có 98,2% người trả lời cần thiết đào tạo một đội ngũ thẩm phán, hội thẩm nhân dân và cán bộ tòa án chuyên trách giải quyết các vụ việc liên quan đến người chưa thành niên phạm tội. Chỉ 1,8% cho rằng không cần thiết vì họ có thể tích lũy kinh nghiệm trong quá trình làm việc tại Tòa án chuyên trách này.
Theo Đại biểu nhân dân

Thẩm quyền tòa án gia đình với người chưa thành niên

Theo như dự thảo Luật thì rửa tiền chủ yếu thông qua giao dịch ngân hàng, trong khi đó rửa tiền qua rất nhiều kênh, đầu tư vào nhà hàng, khách sạn, kinh doanh bất động sản, chứng khoán, ngân hàng chỉ là một kênh thôi. Điều đó chứng tỏ suốt từ năm 2005 đến nay, khi thành lập Cục rửa tiền nhưng có phát hiện ra vụ rửa tiền nào đâu.


ĐBQH Đỗ Văn Đương (TP Hồ Chí Minh): Chưa nhận diện được các hành vi rửa tiền

Luật này có một sứ mệnh rất quan trọng là phải liệt kê được để có thể nhận dạng những hành vi rửa tiền giống như nhận dạng 12 hành vi tham nhũng trong Luật Phòng, chống tham nhũng. Nhưng đáng tiếc dự thảo luật không nhận dạng được các hành vi này mà đưa ra khái niệm rửa tiền. Thực chất, Bộ luật Hình sự cũng đã quy định, nếu như có trợ giúp cho các hành vi rửa tiền hoặc chiếm hữu các tài sản mà thời điểm đó biết rõ phạm tội mà có thì cũng đều là đồng phạm của tội phạm rửa tiền và cũng là tội phạm của tội chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Theo như dự thảo Luật thì rửa tiền chủ yếu thông qua giao dịch ngân hàng, trong khi đó rửa tiền qua rất nhiều kênh, đầu tư vào nhà hàng, khách sạn, kinh doanh bất động sản, chứng khoán, ngân hàng chỉ là một kênh thôi. Điều đó chứng tỏ suốt từ năm 2005 đến nay, khi thành lập Cục rửa tiền nhưng có phát hiện ra vụ rửa tiền nào đâu. Chính vì vậy cho nên phạm vi điều chỉnh mà xác định là phòng, chống rửa tiền qua ngân hàng thì tên phù hợp với nội hàm của đạo luật này. Nếu như thấy rằng rửa tiền với tính chất là một đạo luật chung, qua nhiều kênh, nhiều lĩnh vực thì phải thiết kế lại rất nhiều nội dung.

Đối với cơ quan chủ trì, nòng cốt, chịu trách nhiệm trước Chính phủ, quản lý nhà nước về công tác phòng, chống rửa tiền, tôi cho rằng không ai khác là Bộ Công an. Vì nói đến rửa tiền là tội phạm hình sự, nó liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống các tội phạm nói chung, nhất là tội phạm tham nhũng, tội phạm ma túy và tội phạm sản xuất lưu hành tiền giả thường gắn liền với hoạt động rửa tiền. Việc này Bộ Công an quản lý sẽ phù hợp hơn. Liên quan đến Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân, tôi thấy rằng chỉ là cơ quan tố tụng thực hiện chức năng, nhiệm vụ đã được Bộ luật tố tụng Hình sự quy định rõ. Nếu có ở đây chỉ ghi một điều chung là trong phạm vi trách nhiệm của mình có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, nhà nước khác trong việc đấu tranh phòng, chống rửa tiền.


Quy định các luật trong phòng chống rửa tiền

ĐBQH Nguyễn Văn Phúc (Hà Tĩnh): Để phòng, chống rửa tiền cần phải áp dụng rất nhiều quy định…

Về phạm vi của dự thảo Luật, cũng có ý kiến cho rằng còn thiếu nhiều quy định liên quan đến phòng, chống theo các biện pháp của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự... Đúng là để phòng, chống rửa tiền cần phải áp dụng rất nhiều quy định của các luật khác nhau và nhiệm vụ của luật này theo chúng tôi hiểu đây là luật đưa ra các biện pháp phòng, chống rửa tiền thông qua các biện pháp về kinh tế và hành chính chứ không thể quy định những biện pháp về xử lý hình sự hoặc những thủ tục về tố tụng hình sự trong này được.

Thứ hai, dự án luật này quy định tài trợ khủng bố như thế nào thông qua biện pháp rửa tiền? Tại Kỳ họp thứ Hai, tuy tên gọi là Luật Phòng, chống rửa tiền nhưng trong phạm vi điều chỉnh và trong nhiều chương, điều được quy định phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố, tuy nhiên đa số ý kiến của ĐBQH đề nghị phạm vi điều chỉnh của luật nên tập trung vào phòng, chống rửa tiền còn về tài trợ khủng bố dù được thông qua rửa tiền bằng các nguồn tài sản hợp pháp khác thì nên để quy định trong Luật Phòng, chống khủng bố.

Trong quá trình thẩm tra có 2 khái niệm rất quan trọng liên quan đến luật, đó là khái niệm về rửa tiền và khái niệm về tài sản. Trước hết, khái niệm về tài sản, chúng tôi đã so sánh và thấy không có vấn đề gì khác biệt giữa khái niệm tài sản quy định trong luật này và khái niệm tài sản quy định trong Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên theo yêu cầu của tổ chức quốc tế về phòng, chống rửa tiền, chúng tôi cùng Ngân hàng Nhà nước tham mưu cho UBTVQH bổ sung một ý cho rõ hơn. Nếu như trong Bộ luật Hình sự chỉ quy định tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản khác thì nay bổ sung thêm hình thức tồn tại của các loại tài sản đó dưới hình thức là vật chất hoặc phi vật chất, động sản hoặc bất động sản, hữu hình hoặc vô hình, các chứng từ, công cụ pháp lý chứng minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản đó. Quy định như vậy không trái mà còn phù hợp với Bộ luật Dân sự, đồng thời phù hợp với các điều ước quốc tế. Đối với hành vi rửa tiền đúng là có một vấn đề lớn là trong Bộ luật Hình sự có quy định về tội rửa tiền, trong đó xác định những hành vi rửa tiền và liệt kê những hành vi rất cụ thể. Tuy nhiên theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước và theo tài liệu Ngân hàng Nhà nước cung cấp thì các tổ chức quốc tế về phòng, chống rửa tiền cũng đánh giá hành vi rửa tiền trong Bộ luật Hình sự tuy đã được cập nhật nhưng vẫn còn thiếu một số hành vi và đề nghị nên cập nhật theo các công ước quốc tế. Đó là vấn đề trợ giúp tại Điểm a, Điều 1 và Điểm b về chiếm hữu tài sản, tại thời điểm nhận tài sản, biết rõ tài sản đó do phạm tội mà có. Chúng tôi nghiên cứu và thấy đúng ra là tội phạm thì phải được quy định trong Bộ luật Hình sự, nhưng Bộ luật Hình sự lại có một nguyên tắc mà hiện nay vẫn áp dụng đó là tội phạm chỉ được quy định trong Bộ luật Hình sự. Trong Luật về phòng, chống rửa tiền không được quy định về tội phạm. Nếu muốn bổ sung những hành vi rửa tiền có tính chất tội phạm thì QH phải sửa đổi Bộ luật Hình sự. Sau đó, chúng tôi đã làm việc với các cơ quan hữu quan như Ủy ban Pháp luật, Bộ Tư pháp và tham mưu trình QH một phương án đó là vẫn tuân thủ quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành nhưng vẫn bổ sung được những hành vi đang thiếu theo tiêu chuẩn của các công ước quốc tế, đó là 2 hành vi quy định tại Điểm a và Điểm b, Khoản 1, Điều 4. Như vậy, trong trường hợp cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự chỉ áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự. Còn những hành vi bổ sung này nếu xử lý thì bằng biện pháp kinh tế hoặc bằng biện pháp hành chính...



ĐBQH Lê Thanh Vân (Hải Phòng): Nên có quy định riêng về lực lượng đặc trách chống rửa tiền

Về các nhóm biện pháp chống rửa tiền, thông thường pháp luật quốc tế và hầu hết các nước có 5 nhóm biện pháp để xử lý tội phạm rửa tiền, trong đó có nhận dạng tội phạm và hoạt động kiểm tra, rà soát hoạt động tội phạm. Thứ hai là cập nhật và xử lý thông tin về tội phạm rửa tiền. Thứ ba là lưu trữ hồ sơ của khách hàng. Thứ tư là báo cáo giao dịch theo sự nghi ngờ. Thứ năm là lực lượng đặc trách. Tuy nhiên trong dự thảo Luật mới đề cập đến 4 nhóm giải pháp. Riêng về giải pháp cập nhật và xử lý thông tin lại được tách ra làm hai mục. Quy định thì có nhưng việc sắp đặt lôgic thì tôi cho là chưa khoa học. Đặc biệt là lực lượng đặc trách về chống rửa tiền, trong dự thảo Luật không có và có giao cho Ngân hàng Nhà nước là cơ quan tổ chức lực lượng này. Theo tôi nên có một quy định riêng về lực lượng này.

Vấn đề thứ hai, Điều 40, Chương II về trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong phòng, chống rửa tiền. Điều 40 của dự thảo Luật nói về trách nhiệm Bộ Xây dựng tôi nghĩ rằng việc rửa tiền của tội phạm không chỉ qua bất động sản mà còn thông qua cả động sản nữa như những vật có giá như ô tô, tàu thuyền, những vật có giá trị hay các hoạt động kinh doanh hợp pháp khác như kinh doanh nhà hàng, quán bar, kinh doanh khách sạn hay qua các hãng máy móc, thậm chí là cả qua casino. Nếu chúng ta nhấn mạnh bất động sản và quy định riêng cho Bộ Xây dựng một điều về trách nhiệm của Bộ Xây dựng thì những hoạt động tương tự dưới hình thức tương tự cũng phải quy định cho các bộ quản lý nhà nước khác.

Liên quan đến vấn đề thứ ba, đây là kỹ thuật luật pháp, tôi cho rằng phải tính đến một kỹ thuật lập pháp hiện đại theo hướng quy định các quy định của một đạo luật phải bám vào 3 nguyên tắc, đó là đưa ra các tình huống, đặt ra các quy định và các biện pháp chế tài xử lý như vậy các quy định của pháp luật mới sát nghĩa. Tôi tán thành quan điểm cho rằng điều “quét” ở cuối mỗi đạo luật quy định về trách nhiệm của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn, các điều kiện bảo đảm, các điều khoản ghi trong luật, nhưng theo tôi chúng ta chưa chú trọng đến hoạt động giải thích Hiến pháp, pháp luật. Tôi  tán thành với ý kiến là từ nay về mặt kỹ thuật lập pháp nên bỏ điều này. Thực chất điều này là điều, khoản chuyển tiếp để ủy quyền lập pháp cho Chính phủ, như vậy trái với nguyên tắc lập pháp, chỉ có thể QH ủy quyền cho UBTVQH thông qua việc ban hành Pháp lệnh và giải thích Hiến, pháp pháp luật.

ĐBQH Cao Sĩ Kiêm (Thái Bình): Nội dung của luật chủ yếu là vấn đề chống rửa tiền…

Về 5 nội dung UBTVQH giải trình, tôi nhất trí 3 nội dung, phải bổ sung khái niệm tài sản về rửa tiền, phải đưa các nội dung điều cấm vào luật và quy định về vợ con, chị em ruột của cá nhân có ảnh hưởng chính trị. Ba điều này rất cần thiết, nó vừa phù hợp với thông lệ và công ước quốc tế, vừa phản ánh thực tế của đất nước chúng ta và khi đưa vào luật thì tính khả thi cao, giải quyết như thế này sẽ làm rõ và khi đưa ra rất dễ thực hiện. 3 vấn đề còn lại, tôi xin bổ sung, phân tích và nêu rõ như sau:

Về phạm vi điều chỉnh, tôi nhất trí vì cam kết của chúng ta đối với quốc tế, tránh những rắc rối phiền hà, tác động trong giao dịch quốc tế về tiền tệ tài chính trong tình hình hiện nay. Phải đưa nội dung chống tài trợ khủng bố vào đây, nhưng sự thực nội dung luật này chủ yếu là vấn đề chống rửa tiền. Đưa vào đây là đưa nguyên tắc còn vấn đề xử lý cụ thể thì phải đưa về Luật Phòng, chống tài trợ khủng bố. Tôi xin lưu ý, vì hai luật này ban hành ở thời gian khác nhau, luật này sẽ thông qua kỳ này, còn Luật Phòng, chống tài trợ khủng bố thì đến Kỳ họp thứ Tư mới đưa ra mà quy định phần rửa tiền chỉ mang tính nguyên tắc, còn xử lý phải chờ luật kia. Do có độ chênh về thực hiện và những vấn đề xảy ra cần phải xử lý thì phải có giải thích, giải đáp, có cơ chế, có nội dung để triển khai luật này không bị vướng.

Thứ hai, giá trị giao dịch phải báo cáo và báo cáo giao dịch đáng ngờ, tôi tán thành hai điểm. Một là không ghi mức cụ thể, mức đó sẽ được biểu hiện, được quy định cụ thể trong quá trình hoặc trong tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Tôi không tán thành vấn đề thứ ba là giao cho Thủ tướng Chính phủ quy định mức giao dịch này vì Thủ tướng Chính phủ thấy rằng việc này cũng không đến mức quan trọng. Thời gian đầu có đề nghị là Thủ tướng Chính phủ giao cho ngân hàng và tôi thấy giao cho ngân hàng là hợp lý. Ngân hàng là cơ quan chức năng, theo dõi, có thể tham mưu, có thể quyết định các vấn đề. Tất nhiên trước khi làm phải có báo cáo với Thủ tướng. Vấn đề này cần phải có phân tích và nghiên cứu.

Thứ ba, trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, tôi đề nghị 2 ngành quan trọng nhất và có vị trí trong việc rửa tiền và chống khủng bố là ngân hàng và công an. Làm rõ vai trò của ngân hàng, chủ yếu là vấn đề chống rửa tiền, vai trò của công an chủ yếu là chống tội phạm và tài trợ khủng bố. Cho nên, phải làm rõ trách nhiệm, phải có cơ chế phối hợp hai ngành này, việc xử lý giải quyết của Thủ tướng cũng do hai ngành này báo cáo, phản ảnh và đưa ra những quyết định để Thủ tướng xử lý. Nếu nêu như thế này chắc chắn khi làm mà không có hướng dẫn cụ thể gì thêm, không có nội dung rõ ra thì cũng có thể vướng.

ĐBQH Nguyễn Sơn (Hà Nội): Thiết kế ngắn gọn, bảo đảm đầy đủ nhưng không rườm rà…

Theo tôi trách nhiệm phòng, chống rửa tiền là trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân cho nên cố gắng thiết kế làm sao cho ngắn gọn và bảo đảm đầy đủ nhưng không rườm rà. Ở đây có một số nội dung chưa thể hiện được hết và chưa rõ ràng. Ví dụ như Điều 42, trách nhiệm của các cơ quan khác của Chính phủ. Đây các cơ quan khác của Chính phủ là các cơ quan nào, không rõ ràng. Hoặc nhiệm vụ, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng như cơ quan công an, Viện kiểm sát hoặc Tòa án nhân dân được quy định cụ thể trong Hiến pháp, luật tổ chức và luật tố tụng, đặc biệt là Luật tố tụng Hình sự trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Với các cơ quan này nếu nêu nội dung của Điều 38, Điều 43 và Điều 44 vừa không đầy đủ lại vừa thiếu một cái gì đó. Theo tôi thiết kế đối với 3 cơ quan này nếu đưa vào trong dự án luật này chỉ nên đưa là các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự hoặc cơ quan công an, viện kiểm sát, tòa án có trách nhiệm xử lý kịp thời và nghiêm minh đối với các hành vi phạm tội liên quan đến hành vi rửa tiền, không nên quy định cụ thể, chi tiết nội dung của các điều luật này.

Về kỹ thuật, Điều 43 trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử đối với các vụ án về rửa tiền. Nhưng đối với Điều 44, trách nhiệm của Tòa án nhân dân luật lại nêu là Tòa án nhân dân trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình xử lý kịp thời, nghiêm minh hành vi rửa tiền, các hành vi vi phạm pháp luật khác về phòng, chống rửa tiền là các hành vi gì? Vì tội phạm với hành vi vi phạm có thể nó khác nhau, mà Tòa án không xử lý hành vi vi phạm. Cho nên chỗ này về cấu tạo kỹ thuật đề nghị xem xét, nếu được thì nên gộp 3 cơ quan này làm một.

Về Chương IV hợp tác quốc tế trong phòng, chống rửa tiền, trong Khoản 3, Điều 49 nêu là Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình thực hiện việc hợp tác quốc tế và tương trợ tư pháp trong phòng, chống rửa tiền. Nếu so sánh điểm này với Luật Tương trợ tư pháp thì cũng không đầy đủ. Vì trong hoạt động hợp tác quốc tế về đấu tranh phòng, chống tội phạm thì tư pháp hình sự có liên quan cả đến hoạt động của tòa án. Nếu quy định cụ thể như thế này thì rất phức tạp.

Theo Đại biểu nhân dân

Quy định các luật trong phòng chống rửa tiền

Nguyễn Hoàng Anh, Vũ Công Giao,
Nguyễn Minh Tuấn (Đồng chủ biên)
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà nội, 2016
Tư duy pháp lý đang dần trở thành một chủ đề nóng, thu hút được sự quan tâm, tìm hiểu của những người trong giới luật, kể cả những người vốn đã hành nghề luật lâu năm. Nhu cầu này là có thật và xuất phát từ đòi hỏi khách quan của cuộc sống, của công việc, nhất là trong điều kiện Việt Nam đang tiến hành cải cách tư pháp, từng bước phát triển án lệ và dần tiếp thu mô hình tố tụng tranh tụng. Tư duy pháp lý là gì? Có những cách thức tư duy pháp lý nào? Cần ứng dụng tư duy pháp lý trong thực hành nghề luật ra sao?... Những vấn đề lý thú này sẽ dần được giải đáp trong cuốn sách chuyên khảo "Tư duy pháp lý lý luận và thực tiễn". Cuốn sách có nhiều bài viết sâu sắc của các tác giả như: GS.TS. Nguyễn Đăng Dung, GS.TS. Hoàng Thị Kim Quế, PGS.TS.NGƯT. Chu Hồng Thanh, PGS.TS. Bùi Xuân Đức, TS. Trần Nho Thìn, PGS.TS. Vũ Công Giao, ThS. Nguyễn Phú Hải, PGS.TS. Nguyễn Hoàng Anh, TS. Nguyễn Minh Tuấn, TS. Nguyễn Bích Thảo, ThS. Đậu Công Hiệp, ThS. Phan Thị Hải Yến, TS. Mai Văn Thắng, TS. Phạm Thị Duyên Thảo, TS. Lê Thị Phương Nga.
Trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc!



SÁCH CHUYÊN KHẢO: TƯ DUY PHÁP LÝ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Cảnh cáo là 1 trong 7 loại hình phạt chính trong Bộ luật Hình sự (BLHS). Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy loại hình phạt này ít được áp dụng và không đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng, chống tội phạm; đồng thời cũng chưa phù hợp với pháp luật hình sự của nhiều nước trên thế giới.

Cảnh cáo là một hình phạt có tính cưỡng chế, ít nghiêm khắc và nhẹ nhất trong hệ thống các hình phạt chính được quy định trong BLHS. Về cơ cấu, trong tổng số các điều luật của phần các tội phạm của BLHS thì số điều luật quy định về hình phạt cảnh cáo tại phần các tội phạm là 36/276 điều luật (hơn 13%) – chiếm một tỷ lệ đáng kể. Theo đó, cảnh cáo có thể được hiểu là sự khiển trách công khai của Tòa án - nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội. Điều 29 BLHS quy định “Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt”. Như vậy, điều luật yêu cầu để áp dụng hình phạt này phải có đủ 2 điều kiện là: tội danh của người phạm tội phải thỏa mãn điều kiện mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó đến 3 năm tù – tức là phạm tội ít nghiêm trọng và người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ.

Tuy nhiên, từ thực tiễn tố tụng có thể thấy loại hình phạt này không đáp ứng được yêu cầu đấu tranh và phòng chống tội phạm và chưa phù hợp với bản chất của hình phạt.

Thứ nhất, hình phạt cảnh cáo có sự “khập khiễng” và không phù hợp hay nói cách khác là mâu thuẫn với quy định tại Điều 26 của BLHS là “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội”. Đối chiếu với yêu cầu của điều luật trên thì hình phạt cảnh cáo không đáp ứng được tính chất “nghiêm khắc” mà pháp luật hình sự muốn hướng tới. Đồng thời, hình phạt cảnh cáo không thỏa mãn hoàn toàn mục đích của hình phạt là “nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội”. Trong khi đó, bản chất của hình phạt trong tất cả các vụ án hình sự là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hay hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt cảnh cáo lại không thể hiện được điều đó. Có lẽ khi quy định về hình phạt này, các nhà làm luật mong muốn sau khi người phạm tội chịu sự lên án sẽ nhận ra được đúng sai, thấy được lỗi lầm. Tuy nhiên, mục đích này không phải lúc nào cũng đạt được vì còn tùy thuộc vào nhận thức của từng cá nhân người phạm tội trước hành vi của mình.

Hình phạt cảnh cáo - Có nên bỏ hay không?

Bài viết liên quan: Đề nghị sửa đổi Luật tổ chức Chính phủ vào năm 2014
Thứ hai, trong số các hình phạt chính, thì cảnh cáo là hình phạt có tính nghiêm khắc nhẹ nhất vì nó
không tước bỏ hoặc hạn chế bất cứ quyền lợi nào của người bị kết án như quyền tự do, quyền sống, quyền sở hữu tài sản mà chỉ gây ảnh hưởng về tinh thần đối với người phạm tội. Hình phạt này quá ít tính răn đe, giáo dục người phạm tội, không đáp ứng mục đích của hình phạt là trừng trị và giáo dục người phạm tội. Mặt khác, nhiều nước trên thế giới không có hình phạt cảnh cáo trong hệ thống hình phạt như: Nga, Đức, Pháp, Thụy Điển, Trung Quốc, Nhật Bản...

Nếu cho rằng, hình phạt cảnh cáo thể hiện tính chất nhân đạo trong chính sách hình sự của nước ta thì cần xem xét lại. Vì hình phạt tiền và cải tạo không giam giữ cũng thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật hình sự. Các hình phạt chính như phạt tiền và cải tạo không giam giữ không mâu thuẫn với Điều 26 của BLHS là “biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước” và phù hợp với mục đích của hình phạt là “tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội”, đồng thời phù hợp với luật hình sự quốc tế.

Như vậy, một hình phạt không đáp ứng được yêu cầu của hình phạt, mục đích của hình phạt không đạt được có cần thiết phải quy định trong BLHS nữa hay không? Đây là câu hỏi đặt ra trong quá trình sửa đổi, bổ sung BLHS.

Hình phạt cảnh cáo - Có nên bỏ hay không?

Vấn đề hôn nhân thực tế thời nayỞ nhiều nước, tuy luật pháp không công nhận trường hợp vợ chồng chung sống không có hôn thú nhưng quy định rất cụ thể về quyền, nghĩa vụ của các bên. Ở Việt Nam, sắp tới Dự thảo sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình (HNGĐ) sẽ bổ sung những quy định nhằm bảo vệ những người liên quan.

Hôn nhân thực tế, sống thử… đang ngày càng phổ biến trong xã hội. Họ không ngoại tình, không vi phạm pháp luật mà chỉ là “vợ chồng không giá thú” bởi nhiều lý do khác nhau. Do không được pháp luật công nhận, bảo vệ nên mối quan hệ rủi ro này rất dễ bị lạm dụng. Vì vậy, “dự thảo sửa đổi Luật HNGĐ sẽ bổ sung những quy định mới nhằm ràng buộc trách nhiệm của “người trong cuộc”” - ông Dương Đăng Huệ (Vụ trưởng Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế của Bộ Tư pháp, Tổ trưởng Tổ biên tập dự án sửa đổi Luật HNGĐ), chia sẻ về định hướng sửa đổi, bổ sung Luật HNGĐ sắp tới.

Vấn đề hôn nhân thực tế thời nay

Sống thử: Thiệt đơn, thiệt kép
Câu chuyện đẫm nước mắt của P. khiến nhiều người xót xa. Ngót 10 năm sống chung với nhau từ thời sinh viên cho đến khi cả hai có cuộc sống ổn định, P. luôn một lòng vun vén, gồng gánh mọi chi tiêu, hầu hạ chồng tương lai. Đến khi anh này bắt đầu thành đạt, ngồi lên ghế phó phòng, mua được mảnh đất nhỏ lại thản nhiên rũ bỏ cô, rắp ranh chuẩn bị cưới vợ. Đất do “chồng” để dành tiền riêng mua và đứng tên nên P. không có phần; kể công sức, tiền bạc bỏ ra chung sống ngần ấy năm thì không có bằng chứng gì. Hai lần phá thai khiến thân hình tiều tụy, P. đã mất tất cả: mất chồng, mất tuổi trẻ, mất cả phần tài sản, công sức mà cô đã đổ ra trong những ngày chung sống.
Trước đây, hôn nhân thực tế vẫn được công nhận, bảo đảm đầy đủ quyền và nghĩa vụ vợ chồng của hai bên khi ly hôn. Nhưng kể từ ngày 1-1-2001 (Luật HNGĐ 2000 có hiệu lực), việc chung sống không hôn thú đã không còn được thừa nhận hợp pháp, khi chia tay, tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng và giải quyết về con chung, tài sản tương tự như việc hủy kết hôn trái pháp luật.

Nhiều nước quy định thỏa thuận sống chung
Vụ trưởng Dương Đăng Huệ cho biết trên thế giới, chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn đang trở thành hiện tượng phổ biến (ở Thụy Điển, tỉ lệ vợ chồng không hôn thú lên đến 25%). Do vậy các nước đều có quy định rõ trong luật hoặc án lệ về quyền và nghĩa vụ trong mối quan hệ này.

Tại một số nước, nếu có đủ căn cứ xác định quan hệ hôn nhân thực tế thì tòa án vẫn có thể công nhận giữa hai bên có các quyền và nghĩa vụ như vợ chồng. Điển hình, án lệ của tòa án Nhật Bản có thể công nhận hôn nhân của những người chung sống như vợ chồng dù không có hôn thú, nếu họ được cộng đồng xung quanh thừa nhận hoặc dựa trên lý do chính đáng khác.

Luật của Khối Thịnh vượng chung về phân chia tài sản đối với các cá nhân chung sống như vợ chồng (có hiệu lực ở Australia từ 1-3-2009) quy định tòa gia đình có thể công nhận hai bên chung sống như vợ chồng, có quyền sở hữu về tài sản như của vợ chồng nếu bảo đảm một trong các điều kiện: Thời gian chung sống như vợ chồng ít nhất là hai năm; hai bên đã có con trong quá trình chung sống...

Nhiều nước tuy không công nhận trường hợp vợ chồng chung sống không có hôn thú nhưng quy định rất cụ thể về quyền, nghĩa vụ của các bên trong Luật HNGĐ hay ban hành luật riêng về vấn đề này. Điển hình, Điều 53 và Điều 55 của Luật Gia đình Canada quy định: Hai người đang chung sống hoặc có ý định chung sống mà không đăng ký kết hôn có thể thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ của mình trong thời gian chung sống hoặc việc chấm dứt chung sống (bao gồm việc sở hữu hay phân chia tài sản, các nghĩa vụ trợ giúp, quyền định hướng giáo dục cho con...). Thỏa thuận sống chung này được hai bên lập thành văn bản, ký vào và thực hiện, còn nếu sau đó hai bên kết hôn thì được xem như thỏa thuận hôn nhân.

Bộ luật Dân sự Pháp (từ Điều 515-1 đến Điều 515-8) cũng có quy định cụ thể về thỏa thuận tổ chức cuộc sống chung và hôn nhân thực tế. Thụy Điển cũng đã ban hành luật riêng về chung sống như vợ chồng. Tại các nước Thụy Điển, Pháp, Australia, quy định về thỏa thuận sống chung được áp dụng không phân biệt cho cả trường hợp nam nữ chung sống hay chung sống đồng tính.

Dự thảo Luật HNGĐ sẽ bổ sung thêm quy định điều chỉnh về quan hệ “sống chung không đăng ký kết hôn” (áp dụng cho cả sống chung đồng giới hay khác giới) theo hướng:
Không thừa nhận hôn nhân hợp pháp giữa những người có quan hệ chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn. Đồng thời, quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ chung sống (áp dụng cho cả quan hệ chung sống đồng giới hay khác giới):
- Về con chung: Được áp dụng tương tự theo quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con trong Luật HNGĐ.
- Về tài sản: Cho phép các bên lập thỏa thuận về quan hệ tài sản để bảo đảm tính công khai, minh bạch trong giao dịch, thỏa thuận. Nếu các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vô hiệu (vi phạm điều kiện có hiệu lực; hoặc chung sống vi phạm các điều kiện kết hôn về tuổi kết hôn, có quan hệ họ hàng...) thì quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa các bên sẽ được xác định theo quy định về sở hữu chung trong Bộ luật Dân sự.
 Theo Phapluattp.vn

Vấn đề hôn nhân thực tế thời nay

Kỳ án trong hoa viên Xương Thời - Ngọc QuýNgày xưa ở huyện Đinh Hải, thuộc phủ Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc) có quan kiểm sự tên Cao Khoa và quan Thị Lang tên Hạ Chánh là đôi bạn thân, cùng ở một làng. Hai người này hứa sẽ gả con cho nhau khi chúng trưởng thành. Vợ Hạ Chánh sinh con trai đặt tên là Xương Thời còn vợ Cao Khoa sinh con gái đặt tên là Quí Ngọc.


Hạ Chánh nhờ bà mai thay mặt nhà trai đem đôi kim thoa đến nhà gái làm lễ vật. Cao Khoa vui vẻ nhận rồi trao lại một cặp trâm ngọc để làm tin. Từ đó hai nhà đi lại với nhau càng thêm thắm thiết.
Gần hai chục năm sau, Hạ Chánh chết vì gia cảnh sa sút còn gia đình Cao Khoa càng ngày giàu có lên. Cũng vì lời hứa hôn năm xưa mà mẹ Xương Thời cho người tới nhà Cao Khoa hỏi cưới Quí Ngọc. Tuy nhiên, giờ Cao Khoa lại không muốn gả Quí Ngọc cho Xương Thời nữa. Biết nhà bạn nghèo, ông cố tình thách cưới cao. Thấy cha mình bội ước, Qúi Ngọc âm thầm nghĩ cách giúp Hạ Xương Thời có được số bạc đó để mang sang nhà nàng làm lễ dẫn cưới. Một mặt nàng vẫn sai nữ tỳ Thu Hương lén tới thăm hỏi Hạ Xương Thời để chàng thư sinh đừng thất vọng. Nhưng tuyệt nhiên nàng không tiết lộ kế hoạch của nàng cho nữ tỳ hay biết.

Nói về công tử Hạ Xương Thời từ ngày bị Cao Khoa thách thức quá nhiều, chàng làm thinh luôn, không nghĩ tới việc lấy vợ nữa. Chàng suốt ngày quanh quẩn ở thư phòng, đọc sách ngâm thơ, ít khi đi ra ngoài. Chàng chỉ có một người bạn tâm giao là Lý Thiện Phụ, thường hay lui tới nhà chàng cùng chung học tập. Thấy mẹ con Hạ Xương Thời im lặng đã lâu, nhiều gia đình khá giả lân la ngỏ ý hỏi xin Quí Ngọc cho con trai họ. Và Cao Khoa cũng kén rể cho xong năm ấy. Nàng Quí Ngọc hốt hoảng kêu nữ tỳ Thu Hương sang bên nhà Hạ Xương Thời để hẹn chàng qua lấy vàng bạc mang về để mang sang làm lễ cưới. Vì bản tính thật thà mà Xương Thời đã kể lại câu chuyện cho người bạn thân nghe. Vốn tham lam, Lý Thiên Phụ tìm cách chiếm đoạt số bạc đó.

Lợi dụng lúc Xương Thời say rượu, Lý Thiện Phụ sửa sang áo quần, đi đến nhà Cao lão gia. Lúc ấy khoảng mười giờ tối. Thấy cửa sau vườn hé mở, hắn lẻn vào và tới thẳng chỗ hẹn tỳ nữ Thu Hương của Quí Ngọc. Phát hiện người đến nhận bạc không phải là Xương Thời, Thu Hương kiên quyết không giao. Sợ bị bại lộ nên Lý Thiên Phụ đã ra tay giết Thu Hương, cướp bạc sau đó hắn về nhà làm như không có chuyện gì. Lúc này, Hạ Xương Thời đã tỉnh rượu vội vàng ra chỗ hẹn nhưng khi ra đến nơi đã phát hiện tỳ nữ Thu Hương đã chết, liền quay về, lòng nghi ngờ cha của Quí Ngọc vì muốn từ hôn nên cố ý hãm hại cho chàng.

Sáng sớm, Quí Ngọc chờ mãi không thấy Thu Hương liền cho người đi tìm thì thấy Thu Hương nằm chết ở ngoài vườn. Thấy nữ tỳ vì mình mà bỏ mạng, Quí Ngọc liền vào thú thật với Cao Khoa. Cao Khoa nổi giận mắng con gái một hồi rồi làm đơn cáo với huyện quan đại ý quy kết Hạ Xương Thời nhà nghèo, sinh lòng tham dụ dỗ tỳ nữ Thu Hương lấy trộm bạc vàng và nữ trang của gia đình chủ rồi đang tâm sát hại Thu Hương để khỏi bị lộ.

Huyện quan nhận đơn liền cho lính đi bắt Hạ Xương Thời lên xét hỏi. Hạ Xương Thời bị bắt một mực kêu oan và cho rằng bị Cao Khoa lập mưu hãm hại. Tuy nhiên, Hạ công tử không tiết lộ chuyện Quí Ngọc sai Thu Hương mời đến hoa viên để trao bạc vàng dẫn cưới vì chàng cho là làm như vậy sẽ mất danh dự và phụ lòng tốt của Quí Ngọc. Để thêm bằng chứng, huyện quan cho mời Quí Ngọc đến để chất vấn. Tại công đường, Cao Quí Ngọc thật thà khai hết từ đầu đến cuối, từ chuyện hai nhà đã có giao ước đến chuyện nàng thương Xương Thời không có tiền nên góp nhặt bạc vàng và sai nữ tỳ Thu Hương qua dặn họ Hạ đến tối tới sau vườn mà lấy. Căn cứ vào lời khai này, huyện quan xử Hạ Xương Thời án tử hình, hủy hôn ước và cho phép Cao tiểu thư đi lấy chồng khác. Sau đó, Hạ công tử được Thượng ty giảm án xuống án tù chung thân.
Kỳ án trong hoa viên Xương Thời - Ngọc Quý

Xem thêm: Tìm hiểu quyền nhân thân với hình ảnh cá nhân
Luật nay: Quan huyện vi phạm Luật tố tụng hình sự
Việc kết án tử hình Hạ công tử của quan huyện trong khi không có đầy đủ chứng cứ là chưa chính xác và thiếu khách quan. Trong vụ án này, quan huyện đã không tiến hành điều tra một cách đầy đủ và toàn diện mà chỉ lấy lời khai của các bên rồi căn cứ vào đó để kết tội Hạ Xương Thời.
Nếu như vụ án đó được đưa ra xét xử theo luật thời nay, thì Hạ Xương Thời sẽ không phải chịu mức án tử hình hay chung thân (Thượng ty đã giảm án cho Xương Thời).Khi không đồng tình với mức án tử hình của quan huyện, Xương Thời có thể làm đơn kháng án lên tòa án cấp trên và khi xét đơn kháng án của chàng, tòa cấp trên phải xem xét đầy đủ những tình tiết khách quan của vụ án.

Trong vụ này, bằng chứng kết tội Xương Thời chỉ là lời khai của Cao Khoa, lời khai của Quí Ngọc, còn Xương Thời nhất nhất kêu oan. Để có thể đánh giá toàn diện vụ án này, quan huyện phải tiến hành thực nghiệm hiện trường, xem xét chứng cứ ngoại phạm của Xương Thời (khi Thiện Phụ giết Thu Hương, Xương Thời say rượu nằm ở nhà)...Qua vụ án mà quan huyện đã điều tra xét hỏi Hạ Xương Thời có những tình tiết lấy lời khai của người  có tính chất gợi ý. Như vậy vi phạm theo Điều 135 của Bộ Luật tố tụng hình sự. Theo quy định tại khoản 4 có ghiQ: không được đặt câu hỏi có tính chất gợi ý. Đồng thời trong quá trình lấy lời khai của nhân chứng ông quan huyện không cho đối chất giữa các nhân chứng (Điều 138 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về Đối chất khi lấy lời khai).
Nếu theo luật ngày nay thì ông quan huyện đã vi phạm vào những điều quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Và vụ án sẽ được điều tra lại để xác định tội danh đối với người bị hại.Kẻ giết người cướp của trong vụ án này chính là Lý Thiện Phụ. Căn cứ những quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành.

Phụ sẽ bị khép 2 tội giết người và cướp của. Điều 93 Bộ luật Hình sự quy định: Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình: Và Lý Thiện Phụ giết người vì động cơ đê hèn...Hành vi giết người của Phụ là nhằm che giấu việc cướp của và sợ bị tố giác, vì vậy, Lý Thiện Phụ phải chịu thêm tội danh là cướp tài sản theo Điều 133 Bộ luật Hình sư.ồ Khoản 1 Điều này quy định: Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Như vậy, trong vụ này, Lý Thiện Phụ sẽ bị xử về hai tội cướp của và giết người. Còn Hạ Xương Thời có thể làm đơn để được đòi bồi thường oan sai (cho khoảng thời gian 2 năm phải ngồi tù) theo Nghị quyết 388 của ủy ban thường vụ Quốc hội.
theo tư vấn pháp luật

Kỳ án trong hoa viên Xương Thời - Ngọc Quý

+